trong-cay-mui

[Cây múi] – phần 2 Những sinh lý chuyên sâu

Chủ đề tài liệu chuyên sâu: Những sinh lý của cây có múi cần biết.

1. Hiện tượng ra trái cách năm và cách khắc phục trên cây có múi.

Hiện tượng ra trái cách năm xuất hiện trên hầu hết các vùng trồng cây có múi trên thế giới. Có thể xuất hiện trên một phần cây, một số cây hoặc cả khu vực. Ở Florida: Xuất hiện nhiều trên quýt, nhẹ trên cam, ít xuất hiện trên bưởi .

Hiện tượng ra trái cách năm làm giảm năng suất, trái nhỏ. Điều khiển cho cây ra trái đều hàng năm tốt hơn năng suất biến động từ năm nầy sang năm khác. Nguyên nhân hiện tượng ra trái cách năm có thể do sự bất lợi của môi trường, sự khô hạn hoặc dịch hại sau khi đậu trái.

Để khắc phục hiện tượng ra trái cách năm trên cây có múi người ta thường áp dụng một số biện pháp sau:

* Biện pháp quản lý

– Làm giảm sự ra hoa và đậu trái trong mùa thuận
– Tỉa bớt trái trong mùa thuận
– Tạo sự khô hạn trong thời kỳ trái non làm rụng bớt trái
– Giảm lượng phân trong năm cho trái ít nhưng tăng lượng phân trong năm cây cho trái nhiều

Trường hợp cây cho trái quá nhiều có thể làm cho cây chết

2. Ảnh hưởng của nhiệt độ lên đặc tính của trái

Một số đặc tính của trái như kích thước, hình dạng, màu sắc, thời gian chín, TSS, TA bị ảnh hưởng rất mạnh bởi yếu tố khí hậu.

Tỉ lệ sinh trưởng của trái tối hảo trong điều kiện nhiệt độ từ 20-25oC, nhiệt độ lớn hơn 30oC và thấp hơn 13oC ức chế sự sinh trưởng của trái. Khí hậu ẩm, lạnh trái sẽ phát triển tốt hơn khí hậu khô, nóng.

Cấu trúc của con tép mịn trong điều kiện khí hậu ẩm. Trong điều kiện Á nhiệt đới màu sắc trái phát triển tốt hơn trong điều kiện nhiệt đới. Diệp lục tố bắt đầu bị phá huỷ khi nhiệt độ ban đêm thấp hơn 13oC.

Trị số TSS cao nhất đạt được trong điều kiện nhiệt đới và Á nhiệt đới ẩm, nhiệt độ ban đêm cao làm giảm TSS ở vùng nhiệt đới. Hàm lượng Acid thấp và giảm nhanh khi nhiệt độ cao, hàm lượng acid cao nhất ở vùng bán sa mạc hoặc vùng sa mạc Á nhiệt đới. ->tham khảo thêm

1. Sự phát triển trái

Sự phát triển trá của cây có múi theo đường cong đơn giản, gồm ba giai đoạn như các loại trái cây khác:

(1) Giai đoạn phân chia tế bào: 4-6 tuần sau khi ra hoa

(2) Sự phát triển kích thước trái:

Chanh: 2–3 tháng
Cam: hơn 6 tháng

(3) Giai đoạn trưởng thành: ngắn hơn 2 tháng

Một số đặc tính của trái (như kích thước, hình dạng trái, cấu trúc và bề dày của con tép) được xác định trong 2 tháng đầu sau khi ra hoa. Cây mang nhiều trái ảnh hưởng rất lớn đến tỉ lệ phát triển trái

2.Trinh quả sinh (Parthenocarpic)

Là khả năng sản xuất trái mà không cần thụ phấn. Có thể chia làm ba kiểu trinh quả sinh:

Trinh quả sinh yếu: chỉ một ít trái được sản xuất mà không cần thụ phấn: cam Navel

Trinh quả sinh trung bình: Đạt năng suất trung bình nếu không thụ phấn nhưng đạt năng suất cao nếu được thụ phấn như quýt Orlando

Trinh quả sinh mạnh: Đạt năng suất cao nhưng không cần thụ phấn như Chanh Tahiti

Ở Mỹ, cam có từ 0-6 hột được xem là cam không hột. Một số giống cam không hột như ‘Hamlin’, ‘Valencia’ (chất lượng tốt nhất) và ‘Navels’.

Tạo ra trái không hạt cũng là một vấn đề rất được quan tâm nghiên cứu trên cây có múi nhằm tạo ra sản phẩm chất lượng cao và đồng điều. Phân tích đa dạng di truyền của các giống bưởi, Trần Thị Oanh Yến và ctv. (2004a) cho biết các dòng bưởi 5 Roi không hạt không có sự khác biệt về mặt di truyền nhưng có sự khác biệt về mặt di truyền giữa dòng bưởi không hạt và dòng bưởi có hạt (Hình 9.5). Tuy nhiên, khi khảo sát tính đa dạng di truyền của ba nhóm bưởi 5 Roi có hột mài, hột to và không hột bằng phương pháp điện di protein SDS-PAGE, enzyme peroxidase và ADN, Võ Công Thành và ctv. (2005) đã kết luận rằng cả ba nhóm nầy rất đa dạng về kiểu hình (Ho) và kiểu gen (HEP) nhưng sự khác biệt giữa các nhóm khác biệt không có ý nghĩa về mặt thống kê. Phân tính tính đa dạng di truyền của bưởi 5 Roi (đa số là không hạt hoặc hạt lép, chỉ có 2 cá thể có vài hạt) tại xã Mỹ Hoà huyện Bình Minh bằng phương pháp RAPD, Vũ Thị Thuận và ctv. (2005) cho biết tập đoàn bưởi ở địa phương nầy có thể chia thành 6 nhóm trong đó có 5 nhóm rất giống nhau và một nhóm khác hẳn và tác giả đã kết luận rằng tập đoàn bưởi ở địa phương nầy rất đa dạng về mặt di truyền nhưng có sự tương đồng rất cao về hình thái và sinh trưởng.

Khi bình tuyển dòng bưởi Da Xanh không hạt ở Tiền Giang Trần Thị Oanh Yến (2004b) nhận thấy mặc dù được nhân giống bằng phương pháp chiết nhưng số hạt/trái thay đổi từ năm nầy sang năm khác. Tác giả cho rằng số lượng hạt/trái của bưởi Da Xanh phụ thuộc vào nhiều yếu tố và bản chất của dòng nầy không thể là dòng không hạt. Qua hai năm khảo sát các dòng bưởi Da Xanh được tuyển chọn, tác giả cho rằng tính không hạt không thực sự là bản chất bất dục bên trong của bưởi Da Xanh, qua nhuộm hạt phấn chúng chứng tỏ hạt phấn hữu thụ hoàn toàn, nuốm nhuỵ cái phát triển bình thường và sẵn sàng nhận phấn tốt khi hoa nở, bản chất không hạt có thể là do thời gian ra hoa, vị trí trái trên cây, vị trí cây trên vườn (Hình 9.6a và 9.6b ). Tương tự, tác giả cũng kết luận chưa tuyển chọn được dòng bưởi Lông Cổ Cò không hạt trong tự nhiên. Cũng nhằm tìm ra giống bưởi Đường Lá Cam không hạt Nguyễn Văn Thu và Nguyễn Văn Hùng (2004) cũng không ghi nhận được giống bưởi Đường Lá Cam không hạt mà chỉ có hai cá thể ít hạt là B17BD và B12ĐN. Số hạt trên trái thay đổi theo thời điểm thu hoạch, thu hoạch từ tháng 2-5 trái ít hạt hơn thu hoạch từ tháng 8-12.

Khác với cây bưởi, khi tuyển chọn giống cam mật không hạt, Trần Thị Oanh Yến và ctv. (2005) kết luận rằng đặc tính không hạt của cây cam Mật không hạt bình tuyển là gen bất dục quy định hay do cấu trúc bất thường của nhiễm sắc thể dẫn đến quá trình giảm phân hình thành giao tử không bình thường.

Phần 1 sinh lý tài liệu chuyên sâu sinh lý cây Múi cần biết

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

0868.82.86.81